Hệ thống xử lý nước thải y tế mới nhất

Leave a Comment
Hệ thống xử lý nước thải y tế mới nhất https://xulynuocthaivietenvi.com/wp-content/uploads/2017/06/he-thong-xu-ly-nuoc-thai-y-te.png

Tổng quan về ngành y tế

Ngày nay, Việt Nam là nước đang phát triển và hột nhập về kinh tế, nhu cầu người dân tăng lên về mọi mặt điển hình nhất là nhu cầu về sức khỏe con người.

Sau hơn 20 năm thực hiện Đổi mới với những thay đổi quan trọng trong ngành y tế, người dân Việt Nam đã đạt được tuổi thọ trung bình khá cao so với các nước có cùng mức thu nhập. Nhiều chỉ số cho thấy tình trạng sức khỏe của người dân đang ngày càng được cải thiện qua các năm. Tuy nhiên, trong giai đoạn tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế và chuyển đổi cơ cấu bệnh tật, ngành y tế Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức mới. Quá trình đối thoại giữa Chính phủ và các đối tác hỗ trợ phát triển cho thấy một phương thức hỗ trợ chặt chẽ và hiệu quả từ các nhà tài trợ là rất cần thiết khi Việt Nam đang ngày càng tiến dần đến mức thu nhập quốc dân trung bình.

Nguồn gốc phát sinh nước thải y tế

Nước thải của y tế chủ yếu phát sinh từ các nguồn sau:

  • Nước thải từ các khoa phòng bao gồm cả nước thải sinh ra trong quá trình khám chữa bệnh: dịch, máu, các loại vi khuẩn gây bệnh trong cơ thể người, chất hữu cơ, động thực vật, các loại dung môi sinh học, hóa học, dầu mỡ các phế phẩm thuốc, dòng thải từ nước sàn, lavabo của các khu xét nghiệm và X quang, phòng cấp cứu, khu bào chế dược phẩm, phòng sản, phẫu thuật, phòng thủ thuật,…
  • Nước thải sinh hoạt của các cán bộ công nhân viên, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và khách vãng lai: các dòng thải từ nước sàn, lavabo và bể phốt của các khu điều trị, văn phòng, khu hành chính, nhà bếp, nhà ăn,…

Nước thải từ 2 nguồn trên có chứa các chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng, chất tẩy rửa, các hoá chất mang tính dược liệu và đặc biệt là các vi trùng gây bệnh.

  • Nước thải bề mặt: chủ yếu là nước mưa chảy tràn cuốn theo rác, đất đá và các chất lơ lửng khác.

Đặc tính và ảnh hưởng của nước thải y tế chưa qua xử lý

Nước thải y tế  có hàm lượng chất rắn lơ lửng lớn, độ hoà tan ôxy thấp, hàm lượng các chất hữu cơ cao (đặc trưng bởi COD, BOD) và đặc biệt là chứa nhiều vi sinh vật nhất là sinh vật gây bệnh truyền nhiễm. Các tác động của chúng:

  • Chất rắn lơ lửng: nước thải bệnh viện có hàm lượng chất rắn lơ lửng cao, làm nước biến màu và mất ôxy, gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn nước tiếp nhận, ảnh hưởng đến hệ sinh thái thuỷ vực của nguồn nước tiếp nhận.
  • Hàm lượng ôxy hoà tan (DO): hàm lượng ôxy hoà tan trong nước là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất của nước vì ôxy không thể thiếu được đối với tất cả các sinh vật sống trên cạn cũng như sống dưới nước. Ôxy duy trì quá trình trao đổi chất, sinh ra năng lượng cho sự sinh trưởng, sinh sản và tái sản xuất. Đối với nước thải y tế
  • , trong thành phần nước thải có chứa nhiều các hoá chất, hợp chất mà quá trình ôxy hoá chúng sẽ làm giảm nồng độ ôxy hoà tan trong nguồn nước tiếp nhận, dẫn đến đe doạ sự sống của loài cá cũng như sinh vật sống trong nước.
  • Nhu cầu ôxy hoá học (COD): là lượng ôxy cần thiết để ôxy hoá hoàn toàn các hợp chất hữu cơ có trong nước thải. Nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD) là lượng ôxy vi sinh vật đã sử dụng trong quá trình ôxy hoá các hợp chất hữu cơ. Hai chỉ số này dùng để đánh giá mức độ ô nhiễm của nguồn nước. Giá trị BOD và COD của nước thải y tế Đa khoa Trung ương Thái Nguyên là tương đối cao, phản ánh mức độ ô nhiễm hữu cơ của nước thải lớn, điều này dẫn đến việc làm giảm lượng ôxy hoà tan trong nước, tác động một cách tiêu cực trực tiếp đến đời sống của các sinh vật trong nước.
  • Đối với nước thải y tế là chứa nhiều vi sinh vật, nhất là vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm. Do vậy, nếu công tác vệ sinh, khử trùng không được tốt, các vi trùng, vi sinh vật gây bệnh sẽ được xả ra thuỷ vực tiếp nhận, làm gia tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường và sức khoẻ cộng đồng. Nước là một phương tiện lan truyền các nguồn bệnh, quá trình lan truyền có thể qua côn trùng trung gian, qua thực phẩm và qua sử dụng nước bị nhiễm bẩn, qua người sang người.

Ngoài ra, trong nước thải bệnh viện còn có chứa các hợp chất hữu cơ, một số kim loại nặng với hàm lượng nhỏ,…mà độc tính của nó không thể nhận biết ra ngay. Các chất này tích tụ trong chuỗi thức ăn của hệ sinh thái và có thể gây ra nhiễm độc ở người (với nồng độ lớn) khi con người là sinh vật cuối cùng trong chuỗi thức ăn đó.

Đề xuất sơ đồ công nghệ xử lý nước thải y tế

Xem thêm: hệ thống xử lý nước thải khách sạn

Thuyết minh sơ đồ công nghệ

Nước thải y tế theo mạng lưới thoát nước riêng dẫn đến hố thu. Trước khi vào hố thu, nước thải được dẫn qua thiết bị lọc rác thô nhằm loại bỏ các chất rắn có kích thước lớn ra khỏi nước thải để đảm bảo sự hoạt động ổn định của các công trình xử lý tiếp theo. Tiếp theo đó nước thải sẽ được bơm sang bể điều hòa.Tại bể điều hòa, máy khuấy trộn chìm sẽ hòa trộn đồng đều nước thải trên toàn diện tích bể, phòng ngừa trường hợp lắng cặn ở bể sinh ra mùi khó chịu, ngoài ra còn có chức năng điều hòa lưu lượng và nồng độ nước thải đầu vào. Nước thải sau khi được bơm ra từ bể điều hòasẽ được dẫn qua cụm bể anoxic và MBBR. Bể anoxic kết hợp MBBR là bước tiến lớn của kỹ thuật xử lý nước thải y tế. Giá thể này có dạng cầu với diện tích tiếp xúc từ  350 m2 - 400 m2/ 1m3. Nhờ vậy sự trao đổi chất, nitrat hóa diễn ra mau hơn nhờ vào mật độ vi sinh lớn tập trung trong giá thể lưu động. Vi sinh được di động khắp nơi trong bể, lúc xuống lúc lên, lúc trái lúc phải trong bể MBBR. Lượng khí cấp cho quá trình xử lý hiếu khí đủ để giá thể lưu động vì giá thể nhẹ, xấp xỉ khối lượng riêng của nước. Do tế bào vi sinh đã có nơi để bám dính nên chúng ta không cần bể lắng sinh học mà chỉ lọc thô rồi khử trùng nước. Khi cần tăng công suất lên 10-30% chỉ cần thêm giá thể vào bể là được. Tiếp theo, nước trong chảy qua bể anoxic kết hợp MBBR được bơm lên bể lọc áp lực gồm các lớp vật liệu: sỏi đỡ, cát thạch anh và than hoạt tính để loại bỏ hết các hợp chất hữu cơ hòa tan, các nguyên tử dạng vết, những chất khó phân giải sinh học. Sau đó nước thải y tế được bơm qua bể lắng sau đó tiếp tục dẫn qua bể lọc áp lực để loại bỏ lượng SS còn lại, đồng thời khử trùng nước thải bằng dung dịch Chlorine. Nước sau khi qua bể lọc áp lực đạt yêu cầu xả thải vào nguồn tiếp nhận theo quy định hiện hành của pháp luật. Bùn ở bể chứa bùn được được bơm qua máy ép bùn băng tải để loại bỏ nước, giảm khối tích bùn. Bùn khô được cơ quan chức năng thu gom và xử lý định kỳ. Tại bể chứa bùn, không khí được cấp vào bể để tránh mùi hôi sinh ra do sự phân hủy sinh học các chất hữu cơ.

Ưu nhược điểm của sơ đồ công nghệ

Ưu điểm:

  • Mật độ vi sinh vật xử lý trên một đơn vị thể tích cao: Mật độ vi sinh vật xử lý trên một đơn vị thể tích cao hơn so với hệ thống xử lý nước thải y tế bằng giải pháp bùn hoạt tính lơ lửng, vì vậy tải trọng hữu cơ của bể MBBR cao hơn.
  • Chủng loại vi sinh vật xử lý đặc trưng: Lớp màng biofilm phát triển tùy thuộc vào loại chất hữu cơ và tải trọng hữu cơ trong bể xử lý.
  • Hiệu quả xử lý cao, tiết kiệm diện tích xây dựng: diện tích xây dựng của MBBR nhỏ hơn so với hệ thống xử lý nước thải hiếu khí đối với nước thải đô thị và công nghiệp.
  • Điều kiện tải trọng cao: Mật độ vi sinh vật trong lớp màng biofilm rất cao, do đó tải trọng hữu cơ trong bể MBBR rất cao

Nhược điểm:

  • Chi phí đầu tư ban đầu cao
  • Nhân viên vận hành cần được đào tạo về chuyên môn
  • Chất lượng nước thải sau xử lý có thể bị ảnh hưởng nếu một trong những công trình đơn vị trong trạm không được vận hành đúng các yêu cầu kỹ thuật

Quý khách có nhu cầu xây dựng hệ thống xử lý nước thải y tế, bệnh viện vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số hotline: 08 626 55 616 để được chúng tôi tư vấn cụ thể hơn hoặc truy cập vào website: xulynuocthaivietenvi.com để biết thêm thông tin

 

Xem bài nguyên mẫu tại : Hệ thống xử lý nước thải y tế mới nhất

0 nhận xét:

Đăng nhận xét